Tieu Vuong Hoi Pre 1975

  -  

Vẫn còn nhớ trong chuyến được mời sang Đức đọc thơ chương trình giới thiệu Thơ Việt Nam "105 Kinh độ Đông" do Viện Goethe Institut và trung tâm LiteraturWERKStatt - Xưởng Chế tác Thi ca, tháng 11.2005 (1), tôi đã bay từ Sài Gòn - Việt Nam còn nhà thơ Tô Thùy Yên từ nước Mỹ.


Tô Thùy Yên là một nhà thơ nổi tiếng của miền Nam cũ. Ông từng được nhắc như "tứ trụ" thơ Sài Gòn cũ trước 1975 bên cạnh Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đức Sơn. Một điều khá thú vị là cả bốn thi sĩ này đều có dính dáng ít nhiều đến việc công khai hoặc ảnh hưởng văn chương triết lý phương Tây và đều là những dịch giả một số tác phẩm quan trọng của các thi sĩ, triết gia, nhà văn tên tuổi có ảnh hưởng trên thế giới vào môi trường học thuật và đời sống văn nghệ miền Nam. Từ góc độ đọc và nghiên cứu thơ của mình, tôi có thể khẳng định rằng vì mê say và ảnh hưởng sâu đậm những trào lưu, trường phái triết học, thi ca, nghệ thuật phương Tây như hiện sinh, đa đa, thuyết cấu trúc... mà ở họ đã có mầm "nổi loạn" thực thụ và đúng nghĩa của một thi sĩ cấp tiến. Và trên hết là hành trình đi tìm lý tưởng, tự do, đòi hỏi một nền dân chủ đúng nghĩa khi phần lớn các gương mặt nổi trội tạm gọi là "Bắc Năm tư" đó hay các thi sĩ làm nên nhóm Sáng tạo nổi tiếng đều là những kẻ "vượt tuyến" để ly khai Cộng sản, tìm một vùng đất khai phóng và tự do! Chúng ta sẽ tìm hiểu về những tác phẩm dịch, những tác phẩm viết "cộng hưởng" và "cộng lai" của các thi sĩ nhắc ở trên ở phần dưới. Bởi cốt lõi của vấn đề cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng từ những tư tưởng nghệ thuật, văn minh của phương Tây trong thi ca mà trong chừng mực của nghiên cứu này tôi muốn chứng minh.

Bạn đang xem: Tieu vuong hoi pre 1975


Tô Thùy Yên có thơ đăng trên báo Đời Mới từ thập niên 1950. Tôi còn tìm thấy một số truyện ngắn rất hay của ông viết từ ngày trẻ trên các tờ Giữ Thơm Quê Mẹ, Sáng Tạo... và nhiều tờ khác. Ông đã từng mở nhà xuất bản Kẻ Sĩ cùng nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ và nơi đây đã in những tác phẩm đầu tay cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.


*

Nguồn hình ảnh, Getty Images


Nhưng cột mốc hình thành làm nên tên tuổi sự nghiệp họ Tô có lẽ cần phải nhắc đến chính là lúc ông bắt đầu cộng tác xuất hiện trên tờ tạp chí Sáng Tạo. Rồi trở thành trong những thành viên nòng cốt bên cạnh các tên tuổi lẫy lừng văn đàn thời bấy giờ như nhà văn, thi sĩ Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng... khai sinh thơ Tự do trên văn đàn miền Nam từ năm 1960.


Sáng Tạo (2) đã nhóm một ngọn lửa khai phóng sáng tạo nghệ thuật mà thật kỳ lạ trải qua hơn nửa thế kỷ ngọn lửa thi ca ấy vẫn như một điểm sáng, vẫn là thành tố mới cháy đượm và nồng nàn chưa thấy dấu hiệu nào mờ nhạt hay tắt lửa trong ánh sáng khiêu gợi của thi ca nghệ thuật.


Và việc chúng tôi cùng được mời trong chuyến đi giao lưu đọc thơ tầm quốc tế này cũng đã nằm trong tín hiệu mới những thi sĩ luôn thao thức tìm kiếm một con đường vượt lên của Nghệ thuật Thi ca. Nhằm bảo tồn tính nhân bản và cái mới của thi ca chưa bao giờ hết mạo hiểm vì độ hấp dẫn, quyến rũ kỳ bí và không bao giờ được dừng lại!


Đó là một mùa băng tuyết lạnh lẽo. Tháng 11 gần như châu Âu bắt đầu có tuyết. Khi gặp nhau chúng tôi thật vui mừng khi thấy thi sĩ "Chiều trên phá Tam Giang" thật khỏe mạnh. Trong nhiều chương trình làm việc tại Đức, hai buổi đọc thơ chính, giao lưu, gặp gỡ bạn đọc tại hai thành phố Berlin và Munich. Rồi một số công việc liên quan khác như chụp hình trung tâm ở Gezett, đọc thơ thu âm ở Lyrikline (Studio 10715 Berlin), ông có đưa cho tôi đọc một số bản thảo thơ của ông.


*

Nguồn hình ảnh, Getty Images


Nói về chuyển ngữ thơ, những bài thơ của tôi do hai dịch giả Hồ Phạm Huy Đôn và Michael Sollorz dịch, còn thơ của anh Tô Thùy Yên do tiến sĩ Thái Kim Lan chuyển ngữ.


Trong đó "Con ngựa và chuyến tàu" là một trong những bài thơ mà ông sẽ đọc trong chương trình "105 Kinh vĩ đông" cùng với tôi. Bài này ông viết khi khá trẻ, từ những năm 16 tuổi. Và bài thơ được công bố lần đầu tiên trên tạp chí Sáng tạo. Hãy khảo sát bài thơ:


Chuyến đi ấy mở ra trong tôi nhiều biên giới, nhận thức cái mới. Ví như, tại sao viện Goethe Institut và trung tâm LiteraturWERKstatt lại quan tâm đến chuyển động, những tín hiệu mới của thơ Việt? Ngay trong đêm đầu tiên giới thiệu chương trình thơ tại Berlin, lời phát biểu của bà giám đốc trung tâm LiteraturWERKstatt, Tiến sĩ Chrisstiane Lange đã cho thấy độc giả yêu thơ ở Đức luôn đi sát với diễn tiến của cái mới, những chuyện động thơ ở Việt Nam và châu Á. Thơ như đời sống xã hội luôn luôn cần những tiếng nói mở rộng và đa chiều. Xã hội thiếu vắng những tiếng nói thì thầm và đơn lẻ cũng chính là lúc lương tri và tinh thần thời đại hoặc đã chết, hấp hối và vắng mặt. Trong tiếng thầm và nhịp đơn đó cũng là lúc âm vang của thơ rõ nhất.

Xem thêm: Nobita Chot Yeu Xuka - Page Not Found &Bull Instagram


Bà Chrisstiane Lange cũng cho rằng "giữa Tô Thùy Yên và Nguyễn Hữu Hồng Minh thì có lẽ những lớp độc giả lớn tuổi sống ở miền Nam Việt Nam, Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông cũ sẽ biết nhiều đến thi sĩ Tô Thùy Yên và không biết đến Nguyễn Hữu Hồng Minh. Tuy nhiên, với thơ khoảng cách tuổi tác đôi khi chưa nói được gì mà chính sức sống, sự liên tưởng, gợi cảm của những bài thơ do ngôn từ hay thi pháp mang lại. Người đọc ở Việt Nam hôm nay có thể biết nhiều về thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh hơn là thơ Tô Thùy Yên. Vì thế chúng tôi chọn hai gương mặt của hai chân dung Việt Nam, một quá khứ sụp đổ của nền Cộng Hòa đã qua và một tương lai Cộng sản".


*

Nguồn hình ảnh, Getty Images


Trong nhiều lần phát biểu xen kẽ giữa buổi điều phối, bà cũng đã nhấn mạnh việc nhà thơ Tô Thùy Yên từng bị phía Cộng sản bắt ở tù tổng cộng ba lần gần 13 năm. Việc ở trong tù của ông cũng cáo chung một nền Cộng hòa bi thảm. Sau khi ra khỏi "trại cải tạo" như cách nói của Cộng sản, cuối năm 1993 thi sĩ cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư theo dạng tù nhân chính trị ở Saint Paul - Minnesota rồi chuyển về sống ở Houston, tiểu bang Texas. Trong khi đó nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh trẻ hơn, lớn lên giữa chế độ Cộng sản. Hiện sống và làm việc ở Sài Gòn. Ông được xem như một thi sĩ trẻ hàng đầu có nhiều cách tân và đổi mới thơ Việt đáng chú ý hiện nay..."


Bà cũng nói với cử tọa viện Goethe Institut và trung tâm LiteraturWERKstatt đã từng mời một số nghệ sĩ châu Á nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng trước đó. Ví như hai nhà thơ Bei Dao và Ko Un.


Nhà thơ Bei Dao sinh năm 1949, gốc người Trung Quốc. Ông còn được biết đến như một nhà bất đồng chính kiến và là một đại diện tiêu biểu của trường phái thơ ca nổi tiếng ở phương Tây tạm gọi trường phái "Thơ Sương Mù". Ông nổi tiếng nhiều lĩnh vực Thơ, Tiểu thuyết ngắn và tiểu luận văn học. Bei Dao từng nhiều lần được đề cử giải Nobel văn chương. Hiện nay ông sống và giảng dạy đại học ở Mỹ.


Còn thi sĩ Ko Un sinh năm 1933 tại Triều Tiên. Ông là người từng đổ axit vào tai để tránh nghe những "ám vọng sinh mệnh" đã chết trong chiến tranh. Như ông cho biết vẫn từng nghe "vọng lên" trong đêm kiếp người đau khổ, ai oán và điêu linh, chết bất đắc kỳ tử và không thể siêu thoát được. Sau đó ông quyết định bỏ lên núi tu mười năm rồi quyết định làm thơ để "giải quyết những vấn đề của mình". Ko Un hiện sống Hàn Quốc. Họ là hai thi sĩ nổi tiếng của châu Á từng được LiteraturWERKstatt Berlin và Goethe Institut mời đọc thơ, giao lưu và nói chuyện với đọc giả Đức trước khi giới thiệu thơ Việt Nam tiêu biểu với hai giọng Tô Thùy Yên và Nguyễn Hữu Hồng Minh.


Có cái gì nối kết từ thơ ca Việt ra với dòng chảy thế giới? Và không chỉ Thơ Việt Nam còn còn cả châu Á? Như thơ Ko Un, thơ Bei Dao, thơ Tô Thùy Yên, thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh... và thơ nhiều thi sĩ khác từng được giới thiệu tại nước Đức? Quan trọng hơn câu hỏi, từ trong sâu thẳm liệu có phải thơ Việt, thơ châu Á cũng là một thành tố của thơ thế giới? Lịch sử sâu xa xủa nó đã tiếp biến từ nghệ thuật tư tưởng và thi ca của phương Tây cộng với bản lai diện mục bản sắc của chính dân tộc mình để làm nên những thành tựu khả thể?


Câu hỏi tôi đã đặt ra từ buổi mang thơ qua nước Đức mùa đông băng tuyết, tháng 11.2005 cho đến hôm nay. Khi tôi ngồi vào bàn viết tham luận gửi cho Hội thảo mang tầm Quốc tế về văn chương Việt Nam tổ chức tại Đại học Hamburg có nhan đề "Literature, Journalism of South Vietnam (1955 - 1975) and the reception of Western ideas" tạm dịch "Văn học, Báo chí Miền Nam Việt Nam (1955-1975) và Sự tiếp nhận tư tưởng phương Tây".


Và đó cũng là cơn cớ của sự ra đời của tham luận của tôi: "Vietnam's Postwar Poetry In Retrospect How The Poetry In The Era Of The Republic Of Vietnam Was Effected By Western Literature And Art".


Tạm dịch "Nhìn lại Thơ Việt Nam Hậu Chiến: Thơ Cộng Hòa Nam Việt Có Nhiều Thành Tựu Từ Tiếp Biến Văn Hóa Nghệ Thuật Phương Tây" (tôi viết như thế để phân biệt Bắc Việt Cộng Sản - Nam Việt Cộng Hòa).


Điều rất đáng ngạc nhiên là các nghiên cứu thi pháp và văn học ở Việt Nam vẫn diễn ra với nhiều âm thầm trong bóng tối khi bưng bít, lũng đoạn, lúc lại cực đoan, thái quá. Về bản chất cơn thủy triều phập phồng lên xuống phù hợp với dòng tư duy chủ lưu của chế độ. Vẫn cách nói một chiều theo hướng chỉ đạo của Đảng Cộng sản là "quán triệt" là "văn hóa dân tộc", là các thành tựu đi đúng hướng "Đảng lãnh đạo thành công phù hợp với mọi thực tế". Nghệ thuật chỉ mô tả hiện thực tô vẽ khối công nông binh một thời hùng hậu bây giờ ngày càng lạc hậu. Và các công trình, đề tài nghiên cứu vẫn khó vượt qua khỏi hàng rào đe dọa, nghiêm trị của cách nhìn khô xám, trơ lệch đó. Các dấu vết ảnh hưởng của nghệ thuật, tư tưởng phương Tây vào Việt Nam không được nhắc đến hay tìm hiểu thấu đáo. Mọi nghiên cứu hú họa, dở dang, thiếu nghiêm túc, đầu tư hệt như một dấu chấm lửng chưa biết bao giờ kết thúc.


*

Nguồn hình ảnh, Getty Images


Chụp lại hình ảnh,

Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế Việt Nam


Cho đến hôm nay với nghiên cứu lý luận phê bình vẫn là thứ tư duy:


-Chỉ có một hệ tư tưởng, một học thuyết- Chủ nghĩa Marx- Lenin là thống soái, quan niệm khác đi là "suy thoái"; phê phán chủ nghĩa Marx- Lenin là "phản động";


-Chỉ có những phát ngôn chính thống của Đảng và Nhà nước là chân lý, nói khác đi là "xuyên tạc, bịa đặt"...;


-Chỉ có Đúng và Sai, Tốt và Xấu, Ta và Địch… dứt khoát theo định hướng của Đảng, chứ không được nghi ngờ, "dao động". Chính điều này càng khó để đưa ra dưới ánh sáng khoa học những nghiên cứu tiếp biến, những giao lưu, va chạm, cộng hưởng của các luồng tư tưởng Đông và Tây... chưa nói đó chính là sự ảnh hưởng toàn triệt! Là nguyên nhân khởi đầu mọi cuộc vận động, đi tới của trí thức.


-Khoa học, Văn học, Nghệ thuật phản ánh hiện thực sai với định hướng của Đảng là thiếu "tính Đảng", là "nhạy cảm", "lệch lạc", cần xem xét xử lý…


Trong khi, sự thật là việc tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam diễn ra từ hơn một nghìn năm nay và đặc biệt quyết liệt ở những bước ngoặc lịch sử.


Và Thơ có lẽ là địa hạt có dấu vết ảnh hưởng nhiều nhất, đậm đặc nhất cái dấu ấn và dấu nối Trong - Ngoài, Đông - Tây ấy. Bước ngoặc này khởi đầu đã làm nên phong trào Thơ Mới mà bây giờ đọc lại, tôi vẫn còn thấy khâm phục thái độ dũng cảm, chấp nhận mọi tình huống của tri thức.


Cần nhắc lại trong tiểu luận "Một thời đại trong thi ca" viết cho cuốn "Thi nhân Việt Nam", một tác phẩm gối đầu về thi ca Việt, nhà phê bình Hoài Thanh là người đầu tiên đã viết: "Sự gặp gỡ phương Tây là sự biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ". Biến thiên sâu sắc đến mức, ông đã xử dụng hình ảnh "một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm về phương Đông". Thơ Mới là kết quả biến thiên vĩ đại do sự gặp gỡ phương Tây ấy.


Hoài Thanh đã kết luận "Không thể xem phong trào Thơ Mới là chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sáp nhập đế quốc Pháp, và, xa hơn nữa từ hồi Trịnh - Nguyễn phân tranh, lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng hàng hóa phương Tây cái mầm sau này đã nảy mầm thơ mới..."


Ở một đoạn khác ông viết: -"Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là một cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ". "Cho đến hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống không còn giữ nguyên hình ngày trước...".


Tuy nhiên, cũng lưu ý một phát biểu của Phan Khôi. người "chủ soái" nổi tiếng thủ cựu, cũng là người dịch Kinh Thánh đầu tiên của Phương Tây mà các cha Cố đạo truyền vào Việt Nam. Ông cũng được xem là người mở đầu cho Thơ Mới, cáo chung Thơ Cũ trước đó bằng bài thơ "Tình già" ông nói một cách hãnh diện, sung sướng như một thi sĩ đi khai tân miền đất mới, chẳng có gì phải hổ thẹn, giấu giấu diếm diếm như Hoài Thanh úp mở: "Không thể xem phong trào Thơ Mới là chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ", Phan Khôi tự thú, thẳng toẹt, chẳng hề đỏ mặt, sướng rân nữa là khác: -"Vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm mảnh đất mới...".


Và cái mảnh đất mới ấy tiếp thu từ kinh nghiệm thẩm mỹ phương Tây mấy trăm năm tiếp tục cộng hưởng thêm luồng sinh khí mới trên từ tự do như ở miền Nam. Nhìn lại, có thể thấy rất rõ ràng người nghệ sĩ ở Hòn ngọc Viễn đông giai đoạn này viết lách bằng sự dấn thân và đam mê. Hoàn toàn không bị một vòng kim cô kiềm tỏa nào. Tác phẩm không phần lớn là "sản phẩm minh họa" như các nghệ sĩ ở miền Bắc. Vì thế, trong lĩnh vực thi ca bộc lộ rất nhiều tài năng. "Chất liệu đầu tiên hiến dâng cho kẻ sáng tạo chính là bản thân hắn" (F.Nietzsche).


Có thể thấy sự ảnh hưởng có dấu vết từ phương Tây đó trong thơ của miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 đó ở bốn địa hạt cần nghiên cứu sau:


Chủ nghĩa hiện sinh có dấu ấn trong thơ của các nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Đông Trình... Đó là việc tiếp cận từ hàng loạt văn học hiện sinh được giới thiệu, dịch và phát hành rộng rãi ở Sài Gòn như các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn của J.P. Sartre (Buồn nôn, Bức tường, Guồng máy), A.Camus (Ngộ nhận, Người xa lạ, Lưu đày trên quê nhà), S.de Beauvoir (Nỗi niềm kẻ bất tử, Một cái chết rất dịu dàng), F.Sagan (Buồn ơi chào mi)... các tác phẩm triết học của các triết gia hiện sinh hàng đầu như F.Nietzsche (Zarathoustra đã nói như thế, Triết lý Hy Lạp thời bi kịch, Hoàng hôn của những thần tượng...), Martin Heidegger (Hữu thể và thời gian, Siêu hình học là gì?, Thư về nhân bản chủ nghĩa, Triết lý là gì?...), Karl Jaspers (Triết học nhập môn), E.Mounier (Những chủ đề triết học hiện sinh), G.Gusdorf (Kierkegaard, người chứng của chân lý), F.Challaye (Nietzsche, cuộc đời và triết lý)…


Trở lại với hiện tượng bộ đôi hiện sinh nhà văn kiêm triết gia J.P.Sartre và A.Camus, hai ông không chỉ đưa chủ thuyết của mình nhuận nhị vào tác phẩm nhắc ở trên mà chính các nghiên cứu, phát triển triết thuyết hiện sinh của mình cũng tạo tiếng vang và ảnh hưởng giới làm văn chương nghệ thuật Sài Gòn, trong đó có các Nhà thơ không ít. Đó là các tác phẩm Văn chương là gì?, Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản (Sartre), Sứ mệnh văn nghệ hiện đại (A.Camus)...

Xem thêm: Giải Bài Tập Hóa Học 10, Hóa 10, Giải Bài Tập Hóa 10, Học Tốt Hóa Lớp 10


Bên cạnh các bản dịch, chuyển ngữ từ nguyên tác, dấu ấn hiện sinh còn được phát triển, nghiên cứu trong các công trình độc lập của giới trí thức Sài Gòn giai đoạn đó. Nếu các văn bản gốc có phẩn khó đọc thì các nhà thơ bị hấp dụ, quyến rũ ảnh hưởng trường phái này có thể tiếp cận dễ dàng hơn qua "Hiện sinh" được chuyển hóa "thuần Việt" của các tác phẩm Lê Thành Trị (Hiện tượng luận về hiện sinh), Trần Thái Đỉnh (Triết học hiện sinh, Triết học Kant, Hiện tượng học là gì?), Lê Tôn Nghiêm (Những vấn đề của triết học hiện đại, Heidegger - trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương, Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger...) và các bài viết khác của các nhà nghiên cứu nổi tiếng lúc ấy như Nguyễn Văn Trung, Tam Ích, Nghiêm Xuân Hồng, Thế Phong, Vũ Đình Lưu, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Nhật Duật, Đặng Phùng Quân...


Với Thanh Tâm Tuyền thì không thể phủ nhận đổi mới toàn triệt thơ Tự do của ông bắt đầu trên tạp chí Sáng Tạo. Như bài thơ "Đen" của ông trích trong tập "Liên đêm mặt trời tìm thấy", Sáng Tạo xuất bản 1964.