Quẻ Dịch Phục Hy

  -  

Dưới đó là lời giảng Quẻ Địa Lôi Phục theo sách "Kinc dịch - Đạo của fan quân tử" của học tập trả Nguyễn Hiến Lê


*

|::::: Địa Lôi Phục (復 fù)

Quẻ Địa Lôi Phục, đồ hình |::::: còn hiểu là quẻ Phục (復 fu4), là quẻ thứ 24 trong Kinch Dịch.

Bạn đang xem: Quẻ dịch phục hy

* Nội quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn giỏi Sấm (雷).

* Ngoại quái là ☷ (::: 坤 kun1) Khôn tốt Đất (地).

Giải nghĩa: Phản dã. Tái hồi. Lại có, trở về, mặt ngoài, phản phục. Sơn ngoại tkhô nóng tô bỏ ra tượng: tượng ngoài núi lại còn tiếp núi nữa.

Vật không bao giờ tới cùng tận; quẻ Bác, hào dương ở bên trên cùng thì lại con quay trở xuống ở dưới cùng (cùng thượng phản hạ); cho nên sau quẻ Bác tới quẻ Phục. Phục là trở lại (phát sinch ở dưới). Nlỗi vậy là đạo tiểu nhân thịnh cực thì phải tiêu, đạo quân tử suy cực thì lại thịnh lần.

Thoán từ

復: 亨, 出入无疾, 朋來无咎.

反復其道, 七日來復, 利有攸往

Phục: Hanh, Xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu.

Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, lợi hữu du vãng.

Dịch: Trở lại: Hanh thông. Ra vào không gặp tai nạn, người mua hàng bè sẽ lần lượt tới, ko lầm lỗi nữa. Vận trời phản phục (tráo đi trở lại), cứ bảy ngày thì trở lại, hành động việc gì cũng có lợi.

Giảng: Khí dương bây giờ trở lại, cho nên vì vậy khô giòn thông. Người quân tử (dương) ra vào tự vị, ko bị tai nạn; rồi sẽ có các hào dương khác kéo nhau tới, cũng nlỗi người dùng bè tới, không còn lầm lỗi nữa (đòi hỏi nói; sau quẻ này sẽ tới quẻ Lâm, có nhị hào dương ở dưới, rồi tới quẻ Thái, có ba hào dương ở dưới, tới quẻ Đại tráng (4 hào dương) quẻ Quải, (5 hào dương) quẻ Càn (cả 6 hào đều dương), thế là sáu quẻ dương cứ tăng lần. đó là vận phản phục của trời đất, cứ bảy ngày thì trở lại. Chữ nhật (ngày) ở phía trên cố mang lại chữ hào; bảy ngày mới trở lại vì sau quẻ Càn, tới quẻ Cấu, một hào âm sinc ở dưới 5 hào dương, ngược lại với quẻ Phục (một hào dương ở dưới 5 hào âm), lúc đó mới hết một vòng (1).

Đại tượng truyện bảo các vua đời xưa tới ngày đông chí, ngày mà dương bắt nguồn sinc (tượng của quẻ Phục: sấm nấp ở dưới đất) thì đóng các cửa ải, cấm đoán khách đi đường và con buôn qua lại mà vua cũng không đi coi xét các địa pmùi hương, là có yêu cầu yên ổn lặng để nuôi cái khí dương mới sinch.

Hào từ

1. 初九: 不遠復, 无祇悔, 元吉.

Sơ cửu: Bất viễn phục, vô kì hối, nguyên cát.

Dịch: Hào 1, dương. Tuy lầm lỗi nhưng thời gian chẳng xa, trở lại giỏi lành ngay, thì không đến nỗi hối hận lớn; rất tốt (chữ Kì ở trên đây có nghĩa là lớn).

Giảng: Hào 1, dương cương, ở đầu quẻ Phục, có nghĩa là người đầu tiên trở lại đạo, biết tu thân, đề xuất rất tốt.

Theo Hệ từ hạ truyện chương V, thì Khổng tử mang đến rằng Nhan Hồi có đức của hào 1 này, vì Nhan có lỗi lầm gì thì biết tức thì mà biết rồi thì sửa liền ko mắc lần thứ nhì nữa.

2. 六二: 休復, 吉.

Lục nhị: Hưu phục, cát.

Dịch: Hào 2, âm: Trở lại đẹp đẽ (hữu), tuyệt.

Xem thêm: Bảng Số Từ 1 Đến 100 Xịn - Các Dạng Bài Về Bảng Các Số Từ 1 Đến 100

Giảng: Hào này âm nhu đắc trung, chính, vốn tuyệt rồi, mà lại ở gần hào 1 là người quân tử, tức là người biết khắc kỉ, trở lại đạo nhân nghĩa; vì thế Tuy là âm mà tuyệt lành.

3. 六三: 頻復, 厲, 无咎.

Lục tam: Tần phục, lệ, vô cửu.

Dịch: hào 3, âm (Mắc lỗi nhưng) sửa lại nhiều lần, Tuy đáng nguy, mà kết quả không có lỗi.

Giảng: Hào này bất trung, bất chính, lại ở thời cuối cùng của nội quái Chấn (có nghĩa là động), ví như người ko bền chí, theo điều thiện ko được thọ, sửa lỗi rồi lại mắc lỗi trở lại, như thế là đáng nguy (lệ), mà lại lại biết phục thiện sửa đi sửa lại nhiều lần, cần rốt cuộc ko có lỗi.

4. 六四: 中行, 獨復.

Lục tứ: Trung hành, độc phục.

Dịch: Hào 4, âm: ở giữa các tiểu nhân (các hào âm: 2,3 và 5,6 ) mà một mình trở lại theo quân tử (hào 1), tức theo đạo.

Giảng: hào này âm nhu, đắc chính ở giữa các hào âm, cơ mà chỉ một mình nó ứng với hào 1 là dương, quân tử, vì thế Hào từ khen là một mình nó biết theo người thiện.

5. 六五: 敦復, 无悔.

Lục ngũ: Đôn phục, vô hối.

Dịch: Hào 5, âm: Có đức dày trở lại điều thiện, không có gì hối hận.

Giảng: Hào này nhu thuận, đắc trung lại ở vị tôn quí, như một người có đức dày phục thiện (trở lại điều thiện), biết tự sửa mình, cho nên vì vậy không hối hận.

6. 上六: 迷復, 凶.有災眚.用行師, 終有大敗, 以其國君凶, 至于十年, 不克征.

Thượng lục: Mê phục, hung, hữu tai sảnh,

Dụng hành sư, chung hữu thua, dĩ kì quốc quân hung, chí vu thập niên, bất khắc chính.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Mê muội, không trở lại, sẽ bị tai vạ từ ngoài chuyển đến (tai) và tự mình tạo ra (sảnh); đã vậy lại cậy võ lực mà dùng quân đàn áp người, rốt cuộc sẽ thua thảm, làm mang đến quốc quân cũng bị khốn nạn (hung), tới mười năm (tới phổ biến cục) cũng không khá được.

Giảng: hào này ở bên trên cùng, nhỏng kẻ tiểu nhân mê mẩn đến cùng cực, ko biết trở lại, cho nên bị đủ thứ tai vạ. Nó có thế lực nhất trong các hào âm (đám tiểu nhân ) vì ở bên trên cùng, muốn dùng võ lực đàn áp người, rốt cuộc sẽ lose, tạo vạ lây đến nước nó, ko bao giờ khá được. Chữ thập (số 10) là số cuối cùng (số 1 là số đầu) cho nên vì thế thập niên ở phía trên có nghĩa là tới cùng, chớ không nhất định là 10 năm.

Tiểu tượng truyện bảo hào bên trên cùng này sở dĩ hung là vì làm trái đạo vua (phản quân đạo), tức đạo của hào 1. Hào 1 này là hào dương duy nhất trong quẻ, làm chủ cả quẻ vì thế hiểu là vua.

***

Quẻ này xét về sự sửa lỗi để trở về đường chính. Tốt nhất là hạng người tự tìm thấy lỗi rồi sửa liền, không mắc phải lần nữa, rồi tới hạng ở gần người xuất xắc, mà bắt chcầu vui vẻ làm điều nhân, nghĩa; sau tới hạng có đức dày trở lại điều thiện, hạng ở giữa kẻ xấu mà một mình theo đạo; hạng ko bền chí, giữ điều thiện được lâu, nhưng mà biết phục thiện thì cũng không lỗi.

Xem thêm: Top 4 Bài Phân Tích Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Xấu nhất là hạng mê muội ko biết trở lại đường chính. Ý nghĩa ko có gì điển hình.