Đoạn Trích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga

  -  

Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Hồi 3 “Truyện Lục Vân Tiên”)

Việt Nam / Lớp 9 » Nguyễn Đình Chiểu



Nội dungVân Tiên ghé lại bên đàng,Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ,Chớ quen làm thói hồ đồ<1> hại dân.”Phong Lai<2> mặt đỏ phừng phừng:“Thằng nào dám tới lẫy lừng<3> vào đây.Trước gây việc dữ tại mầy<4>,Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”Vân Tiên tả đột hữu xông<5>,Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang<6>.Lâu la bốn phía vỡ tan,Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.Phong Lai trở chẳng kịp tay,Bị Tiên một gậy thác rày thân vong<7>.Dẹp rồi lũ kiến chòm om,Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.Trong xe chật hẹp khôn phô<8>,Cúi đầu trăm lạy cứu cô tôi cùng.”Vân Tiên nghe nói động lòng,Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.Khoan khoan ngồi đó chớ ra,Nàng là phận gái, ta là phận trai.Tiểu thơ con gái nhà ai,Đi đâu nên nỗi mang tai bất kì<9>?Chẳng hay tên họ là chi?Khuê môn phận gái<10> việc gì đến đây?Trước sau chưa hãn dạ nầy<11>,Hai nàng ai tớ ai thầy nói ra?”Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,Con này tì tất<12> tên là Kim Liên.Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.Sai quân đem bức thơ về,Rước tôi qua đó định bề nghi gia.Làm con đâu dám cãi cha,Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.Chẳng qua là sự bất bình<13>,Hay vầy<14> cũng chẳng đăng trình<15> làm chi.Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi<16>.Trước xe quân tử<17> tạm ngồi,Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.Chút tôi<18> liễu yếu đào thơ<19>,Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần<20>.Hà Khê qua đó cũng gần,Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.Gặp đây đương lúc giữa đàng,Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không.Gẫm câu báo đức thù công<21>,Lấy chi cho phỉ<22> tấm lòng cùng ngươi”.Vân Tiên nghe nói liền cười:“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.Nay đà rõ đặng nguồn cơn,Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.Nhớ câu kiến nghĩa bất vi<23>,Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

Bạn đang xem: đoạn trích lục vân tiên cứu kiều nguyệt nga


<1> Hồ đồ: lơ mơ không rõ, thiếu căn cứ rõ ràng. Ở đây chỉ thói làm càn, không chính đáng.<2> Phong Lai: tên của kẻ cầm đầu bọn cướp.<3> Lẫy lừng: vang dội, lừng danh, khắp nơi đều biết. Ở đây dùng nghĩa cổ, có nghĩa là dữ dội, hung hăng gây sự.<4> Mầy: mày (tiếng miền Nam).<5> Tả đột hữu xông (hữu xung): đánh vào bên trái, xông thẳng bên phải, ý nói thế chủ động tung hoành khi lâm trận.<6> Triệu Tử phá vòng Đương Dang (Đương Dương): Triệu Vân, tên chữ là Tử Long, một tướng trẻ của Lưu Bị thời Tam Quốc. Khi lưu Bị bị quân Tào đánh đuổi, chạy đến Đương Dương (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), phải bỏ cả vợ con chạy về phía nam. Triệu Vân một mình phá vòng vây của Tào Tháo, bảo vệ A Đẩu, con nhỏ của Lưu Bị.<7> Thân vong: ý nói chết bỏ mạng (thân: thân xác, vong: mất).<8> Khôn phô: khó nói, khó mà bày tỏ được hết.<9> Mang tai bất kì: bất ngờ, thình lình gặp tai nạn.<10> Khuê môn: cửa phòng của người con gái. Khuê môn phận gái: phận đàn bà con gái ở chốn phòng the, không đi ra ngoài – theo luân lí phong kiến ngày xưa.<11> Chưa hãn dạ này (tiếng miền Nam): lòng này chưa tỏ, chưa biết chắc chắn (hãn: rõ)<12> Tì tất: đầy tớ gái.

Xem thêm: Các Dạng Bài Tập Chương Halogen Có Lời Giải, Bài Tập Chương Halogen, Có Lời Giải, Hóa Học 10

<13> Sự bất bình: việc không bình thường, không may xảy ra ngoài ý muốn của mình, ý nói không ngờ bị bọn cướp bắt.<14> Hay vầy (tiếng miền Nam): biết như thế này.<15> Đăng trình: lên đường đi xa.<16> Ý cả câu: cái trinh tiết, phẩm giá mà người con gái giữ gìn cả một đời bỗng chốc bị phá hỏng.<17> Quân tử: tiếng người phụ nữ tôn gọi người con trai có tài, có đức thời xưa.<18> Chút tôi: cái tôi nhỏ bé, một cách nói khiêm tốn để chỉ mình khi xưng hô với người khác.<19> Liễu yếu đào thơ: nói thể chất của người con gái mềm mại, yếu ớt.<20> Đã phần: đã là phần của tôi, ý nói giữa đường gặp phải bọn cướp, lâm vào hoàn cảnh xấu.<21> Báo đức thù công: báo trả ơn đức, đền đáp công lao.<22> Phỉ: thoả đáng, xứng đáng, thoả lòng.

Xem thêm: Miêu Tả Cảnh Đẹp Mà Em Đã Gặp Trong Hè, Bài Tập Làm Văn Số 1 Lớp 7 Đề 3

<23> Kiến nghĩa bất vi: thấy việc nghĩa không làm. Cả hai câu thơ ý nói thấy việc nghĩa mà bỏ qua không làm thì không phải là người anh hùng.