Chính Sách Ngoại Giao Của Nhà Nguyễn

  -  

Trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn vào thế kỷ 19, chỉ có 50 năm đầu là đáng chú trọng, 50 năm sau là giai đoạn của sự xung đột về quân sự (với thực dân Pháp) và bị trị nên triều đình Huế hầu như không còn quyền chủ động về mặt ngoại giao nữa. Trong 50 năm đầu thế kỷ 19, tuy đất nước không phải lúc nào cũng yên ấm về mặt nội trị, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân, binh lính đã xảy ra, nhưng những biến động ấy không cản trở quá trình hoàn thiện xã hội, trong đó có công tác đối ngoại.Trong danh sách các nước láng giềng của Việt Nam, Trung Quốc là nước có nhiều ảnh hưởng nhất đối với các triều đại của ta. Theo thông lệ, mỗi khi lên ngôi, các vua Đại Việt gửi quốc thư cho triều đình Trung Quốc, xin cầu phong và được hoàng đế Trung Quốc phong Vương, một dạng vua nước “chư hầu”. Tuy nhiên, về mặt nội trị, các vua Việt sau khi nhận sắc chỉ phong vương, vẫn bình thản xưng đế hiệu. Điển hình là trường hợp vua Gia Long, năm 1804 được sứ thần Trung Quốc Tề Bố Sâm mang sắc chỉ “Thiên triều” sang Việt Nam phong cho chức Việt Nam Quốc vương, nhưng hai năm sau (1806), ông đã đường hoàng làm lễ lên ngôi hoàng đế. Mối quan hệ suốt chiều dài lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được nói đến nhiều, chỉ xin vắn tắt ở đây.Trong quan hệ với các lân bang khác ở phía Tây và Tây Nam đất nước, trải qua hàng mấy trăm năm, nhất là từ thời các chúa Nguyễn trở về sau, vị trí nổi bật của Đại Việt trong quan hệ đối ngoại là điều khá rõ. Các sử liệu cho thấy các vua chúa nhà Nguyễn đã hỗ trợ rất nhiều cho nước láng giềng Chân Lạp (Campuchia ngày nay) trong việc bảo vệ sự bình ổn về chính trị, xã hội, trước các hành vi gây hấn thường xuyên của các lân bang khác. Năm 1621, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chetta II và sự kiện này đã tạo nhiều cơ hội cho cư dân phía Bắc đi về phía Nam khai thác những vùng đất còn hoang phế để sinh cơ lập nghiệp.


Bạn đang xem: Chính sách ngoại giao của nhà nguyễn


Xem thêm: Đọc Truyện Chiếc Lược Ngà


Xem thêm: Xem Phim Hội Pháp Sư Tập 164, Hội Pháp Sư (277/277 Thuyết Minh)


Năm 1623, với sự ưng thuận của vua Chân Lạp, chúa Nguyễn cho lập đồn ở Sài Gòn để thu thuế. Điều này chứng tỏ rằng ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 17, đã có vết chân của người Việt đến khai phá vùng đất hoang, về sau là Nam Kỳ Lục Tỉnh.Sang thế kỷ 19, năm 1807, vua Chân Lạp là Nặc Chân cử sứ bộ sang Việt Nam xin sắc phong và vua Gia Long đã “phong Nặc Chân làm Cao Man Quốc vương, định lệ ba năm cống một lần…” (Quốc triều chánh biên – Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Sài Gòn – 1972, trang 68), đồng thời tiếp đãi sứ thần một cách nồng hậu, ban phẩm vật và cho dự yến. Ngay trong năm 1807, vua Gia Long cử sứ bộ sang Chân Lạp, trao cho Nặc Chân đạo sắc phong, một ấn bằng bạc mạ vàng khắc hình sư tử, trong một buổi lễ được tổ chức long trọng. Năm sau (1808), Nặc Chân lại cử sứ bộ sang Việt Nam cảm tạ vua Gia Long về việc sắc phong, đồng thời nộp cống phẩm cho năm sau (Maybon Charles B. – Histoire moderne du pays d’Annam – Paris – 1919 – trang 381). Những năm sau đó, các sứ bộ Chân Lạp nối tiếp nhau sang Việt Nam, khi thì nộp cống phẩm, khi thì xin bảo vệ bờ cõi hoặc phúng viếng nhân cái chết của một người nào đó trong hoàng tộc, như trường hợp bà Hoàng Thái hậu, mẹ vua Gia Long mất năm 1811. Những năm 1812-1813, có sự bất hòa giữa Nặc Chân và em là Nặc Nguyên, Nguyên đưa quân Xiêm (nay là Thái Lan) qua chiếm thành La Bích, Nặc Chân phải chạy sang nước ta cầu cứu. Tháng 2 âm lịch (AL) năm 1813, vua Gia Long truyền chiếu cho Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt cùng Hiệp trấn Ngô Nhơn Tịnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước, sau đó đắp thành Nam Vang cho Nặc Chân ở, làm thành Lô Yêm để trữ lương và lưu một số quan binh ở lại để giúp đỡ Chân Lạp. Trong thời gian đó, vua Xiêm cũng nhận được thư trách cứ của vua Gia Long, nên đã ra lệnh rút toàn bộ quân ra khỏi Chân Lạp.

*
*